Gốc > SỐNG TỐT HƠN >

Chữ “Nhãn” và đời

Bản tính: là biểu hiện cá tính, sở thích, thói quen nặng yếu tố bản năng ở mỗi người như: vui vẻ cởi mở hay trầm tư kín đáo, khoáng đạt rộng rãi hay chặt chẽ bủn xỉn, gọn gàng sạch sẽ hay lôi thôi nhếch nhác, thích âm nhạc hay mê hội họa, hâm mộ bóng đá hay văn học, dụt dè nhút nhát hay xông xáo táo bạo, dí dỏm hài hước hay châm chọc kê kích chì chiết, dễ tủi thân mau nước mắt hay “gan lì cóc tía”... Nghĩa là rất phong phú. Cha mẹ sinh con trời sinh tính. Bản tính là cái vỏ bên ngoài gói bản chất và bản lĩnh bên trong. Cần phân biệt cho đúng. Việc ấy không dễ. Chẳng hạn “nóng giận” thì “nóng” là bản tính (đỏ tai lên quát tháo vài ba câu, rồi thôi, quên luôn, lát sau lại cười nói vui vẻ). Nhưng “giận” lại là bản chất (nhất là giận lâu, thù dai thì thật đáng sợ).

Trong ba yếu tố bản chất, bản lĩnh và bản tính thì bản chất quan trọng nhất, là thước đo giá trị con người. Có những cặp vợ chồng bản tính xung khắc, cứ ngồi với nhau là “vặc” nhau, mà toàn những chuyện chẳng đâu vào đâu, nhưng không bao giờ họ nghĩ đến bỏ nhau. Bởi cả hai đều biết rằng bản chất bạn đời của mình tốt. Trong các trường hợp ấy nếu cả hai biết “nhẫn” tìm cách điều chỉnh cải thiện bất hoà trong bản tính thì hạnh phúc của họ chắc chắn sẽ ngày càng viên mãn.

Xét về mối liên hệ thì bản chất thống nhất và mật thiết với tâm nhẫn. Bản lĩnh với chí nhẫn và lực nhẫn. Bản tính với phương thức của nhẫn.

“Nhẫn” tiếp thu kế thừa từ các thế hệ tổ tiên, ông cha. “Nhẫn” là di sản văn hoá truyền thống. Mỗi người, mỗi gia đình, mỗi dòng họ, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc đều biết “nhẫn” để lo việc lớn sẽ tạo sức mạnh vô địch. Sức mạnh bắt nguồn từ lí trí. “Nhẫn” là gốc của lí trí. Nhân cách khẳng định con người, “nhẫn” giúp ta bảo vệ nhân cách. “Nhẫn” cho ta thêm bản lĩnh, gạt bỏ ích kỉ hẹp hòi, hoá giải thù hận, sai lầm, tránh nguy hiểm, thêm bạn, bớt thù, tâm hồn thanh thản, cơ thể khoẻ mạnh và yêu đời. “Nhẫn” không chỉ nhằm giải toả áp lực từ “bi”, “nộ”, “hành”, mà cả “kỉ”, “hài”, “ái”, “bỉ”...cùng mọi yếu tố tác động khác để điều tiết tạo sự cân bằng trong giới hạn cần thiết không thái quá. “Nhẫn” có yếu tố bẩm sinh, song quyết định vẫn do nhận thức và tu rèn. “Nhẫn” có đẳng cấp. “Nhẫn” tạo ra vẻ đẹp cao đạo của trí tuệ là đức tính đặc trưng người quân tử, bậc hiền triết thánh nhân. Có “nhẫn” thì gặp áp lực lớn đến đâu cũng vượt qua. Người giàu “nhẫn” sẽ tránh được sự hợm hĩnh. Kẻ nghèo “nhẫn” sẽ vượt qua sự xúc phạm. Cha con “nhẫn” sẽ có được lòng yêu thương hiếu thảo. Vợ chồng “nhẫn” sẽ giữ được sự êm ấm hoà thuận. hạnh phúc. Anh em, bạn bè “nhẫn” sẽ có được tình nghĩa lâu dài. Người có “nhẫn” sẽ nhìn rõ trời biển bao la, sẽ có được sự thanh thản bình tĩnh sáng suốt, sẽ vượt qua được nhiễu nhương tai họa, sẽ đứng vững ở thế có thể chuyển hung thành cát, nguy thành yên, bại thành thắng, sẽ tránh được sai lầm, giữ được thể diện và danh dự. “Nhẫn” nhiều khi là yếu tố quyết định thành bại đại nghiệp của đời người, hưng vong của quốc gia.

Nghiên cứu thật sâu, hiểu thật đầy đủ về “nhẫn” đã khó, nhưng vận dụng được “nhẫn” vào cuộc sống còn khó hơn nhiều.

Mỗi chúng ta đều chịu tác động từ ba nhóm quan hệ: với thiên nhiên, với cộng đồng xã hội và trong gia đình. Quan hệ ở cả ba nhóm ấy con người đều rất cần phải “nhẫn”. “Nhẫn” ẩn phục chờ con thú sa bẫy, hoặc đợi nó đến đúng tầm phóng lao, cự li bắn cung mới hạ được nó, mới không bị nó tiến công. “Nhẫn” chờ bão tan, sóng yên biển lặng mới ra khơi đánh cá. “Nhẫn” chờ thời tiết thuận mới gieo hạt, chờ cây sinh trưởng, phát triển, ra hoa, kết trái, rồi trái già hoặc chín mới thu hoạch. Mùa hè nóng như thiêu đốt cũng phải “nhẫn” chịu đựng chờ tiết thu về trời mới dịu mát. Sóng thần, lũ quét, động đất tài sản mất hết, người thân không còn, phải “nhẫn” mới khỏi gục ngã và vươn dậy được...

Rõ ràng trong mối quan hệ với thiên nhiên loài người từ khi chỉ biết săn bắt, hái lượm đến nay đều rất cần phải “nhẫn”.

Còn trong cộng đồng xã hội thì sao? Đây là mối quan hệ rất rộng và phức tạp: từ làng xóm, cùng phố, cùng đường, đồng nghiệp, đối tác kinh doanh, bạn, thù, cấp trên, cấp dưới, cho tới việc bang giao giữa các quốc gia... đều rất cần phải “nhẫn”.

Cộng đồng hẹp như gia đình, rộng là tổ chức, cơ quan, địa phương, dân tộc muốn thống nhất, đoàn kết tạo nên sức mạnh phải có ba điều kiện cơ bản. Thứ nhất là cùng ý thức hệ, thứ hai là chung mục đích và thứ ba là gắn bó quyền lợi.

Lịch sử nước ta triều Lý (215 năm) và triều Trần (175 năm) đều hưng thịnh và hùng mạnh bởi đã hội tụ được cả ba điều kiện đó. Phật giáo được lấy làm nền tảng của ý thức hệ tư tưởng. Cốt lõi của đạo Phật là từ bi bác ái. Phật giáo nước ta thuộc dòng chính tâm, phái Đại thừa đã thấm đậm cuộc sống tinh thần mọi người từ vua quan tới lương dân. Tư tưởng Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc tới việc quản lí điều hành đất nước. Cả lập pháp, hành pháp và tư pháp đều được bao trùm bởi chủ nghĩa nhân văn, đồng tâm, hướng thiện. Luật pháp không chỉ răn đe, mà chủ yếu là cứu độ. Sách Đại Việt sử lược viết về Lê Thánh Tông: “Mùa hạ, tháng sáu, vua ngự ở điện Thiên Khánh nghe án. Bấy giờ con gái vua là công chúa Động Tiên hầu một bên. Vua nhìn công chúa mà bảo ngục lại rằng: “Lòng ta thương con ta cũng giống như lòng cha mẹ trong thiên hạ thương con của họ. Trăm họ không biết tự mắc vào pháp luật. Ta rất thương xót. Nên từ nay, tội không kể nặng nhẹ đều nhất luật khoan hồng”. Thương xót sâu sắc tới cả số phận những người bị tù tội. Rõ ràng nhà vua trị vì xã tắc bằng cái tâm từ bi Bồ tát. Hoàng đế mang tâm Phật và lương dân cũng thế. Người chấp pháp và người thực thi đều thiện tâm thì cõi Niết Bàn sẽ hiện hữu.

Đắc Trung


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Kiếm Anh @ 09:08 24/01/2011
Số lượt xem: 448
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến

Trở về đầu trang

Click vào bông hoa